1. Nhiễm trùng là gì?
Định nghĩa nhiễm khuẩn (còn gọi là nhiễm trùng): là sự tăng sinh của các vi khuẩn, virus hoặc ký sinh trùng... đối với cơ thể, dẫn tới các phản ứng tế bào, tổ chức hoặc phản ứng toàn thân. Thông thường, biểu hiện trên lâm sàng là một hội chứng nhiễm khuẩn, nhiễm độc.
Nhiễm trùng có thể tại một vị trí cố định hoặc đi theo đường máu lan khắp cơ thể. Tuy nhiên, một số vi sinh vật tự nhiên sống trong cơ thể không được xem là nhiễm trùng, ví dụ: vi khuẩn thường trú trong miệng và ruột. Vi khuẩn và virus không thể nhìn thấy bằng mắt thường, chúng có thể gây ra các triệu chứng tương tự nhau và thường lây lan theo những con đường giống nhau. Đây là điểm tương đồng duy nhất giữa vi khuẩn và virus. Việc phân biệt nhiễm trùng do vi khuẩn và virus rất quan trọng cho việc chẩn đoán và điều trị bệnh:
2. Nhiễm trùng bệnh viện là gì?
Nhiễm trùng bệnh viện là tình trạng nhiễm trùng xảy ra ở các bệnh nhân trong thời gian nằm viện. Các bệnh nhân này hoàn toàn không mắc các bệnh nhiễm khuẩn tiềm ẩn trước thời điểm nhập viện.
Những trường hợp nhiễm trùng trong 48 giờ đầu kể từ khi bệnh nhân vào viện thì không phải là nhiễm trùng bệnh viện. Ngược lại, một số bệnh nhân khi vào viện không mắc bệnh nhưng sau khi ra viện một thời gian thì bệnh xuất hiện, đây rất có thể là nhiễm trùng bệnh viện. Ví dụ: bệnh viêm gan virus B hoặc C, nhiễm HIV, viêm xương khớp do đóng đinh nội tủy... những bệnh có thời gian ủ bệnh dài ngày.
3. Các yếu tố thuận lợi gây Nhiễm trùng bệnh viện
- Nhiều người bệnh bị nhiễm khuẩn vào bệnh viện khám, điều trị nên có nhiều vi sinh vật gây bệnh cư trú ở bệnh viện.
- Do nhân viên y tế tiếp xúc thường xuyên với vi sinh vật nên trở thành người lành mang mầm bệnh và có thể lây nhiễm cho người khác.
- Nhiều loại vi khuẩn kháng thuốc mức độ cao, đa kháng thuốc do quá trình sử dụng kháng sinh qua nhiều thế hệ và có sự chọn lọc các vi khuẩn kháng thuốc.
- Người bệnh nằm viện có hệ miễn dịch giảm sút do bệnh tật, tuổi cao, do dùng thuốc hoặc hóa chất gây suy giảm miễn dịch.
- Các phương pháp điều trị xâm lấn: phẫu thuật, nội soi, đặt catheter là tăng nguy cơ vi sinh vật xâm nhập qua da, niêm mạc, phẫu thuật…
4. Tác động của nhiễm khuẩn bệnh viện
- Tăng tỷ lệ tử vong.
- Tăng thời gian nằm viện.
- Tăng sử dụng kháng sinh.
- Tăng đề kháng kháng sinh.
- Tăng chi phí điều trị.
=> Giảm chất lượng chăm sóc người bệnh; giảm sự hài lòng của người bệnh với bệnh viện.
5. Tác nhân của nhiễm khuẩn bệnh viện
* Đối với người bệnh:
- Tác nhân thường gặp:
+ Vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng.
+ Vi khuẩn đa kháng.
- Tác nhân gây dịch: Cúm, SARS, Covid 19, vũ khí sinh học….
* Đối với nhân viên y tế:
- Tai nạn nghề nghiệp: Tiêm truyền, bắn máu, dịch cơ thể….thường gặp nhất:
+ Tai nạn rủi ro từ kim tiêm và vật sắc nhọn nhiễm khuẩn.
+ Bắn máu và dịch từ người bệnh vào niêm mạc mắt, mũi, miệng khi làm thủ thuật hoặc tiếp xúc bệnh nhân.
+ Da tay không lành lặn tiếp xúc với máu và dịch sinh học của bệnh nhân có chứa tác nhân gây bệnh.
- Tác nhân gây dịch: Cúm, SARS, Covid 19, vũ khí sinh học…
6. Triệu chứng của bệnh nhiễm trùng là gì?
Các triệu chứng phổ biến của bệnh nhiễm trùng (vi khuẩn và virus) là ho và hắt hơi, sốt, viêm, nôn mửa, tiêu chảy, mệt mỏi và chuột rút. Tất cả các phản ứng trên là cách mà hệ thống miễn dịch cố gắng loại bỏ sinh vật gây bệnh. Tuy nhiên, bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn và virus không hoàn toàn giống, hầu hết là do sự khác biệt về cấu trúc của sinh vật và cách chúng phản ứng với thuốc. Bệnh nhân có thể gặp các triệu chứng rất đa dạng cho vấn đề nhiễm trùng.
7. Các loại nhiễm trùng bệnh viện thường gặp
- Nhiễm khuẩn đường tiết niệu (Urinary tract infection-UTI).
- Nhiễm khuẩn vết mổ (Surgical site infecton-SSI).
- Nhiễm khuẩn hô hấp (Ventilation associate pneumonia infection-VAPI).
- Nhiễm khuẩn huyết (Blood system infection-BSI).
- Nhiễm khuẩn cơ quan khác.
a. Nhiễm khuẩn đường tiết niệu (Urinary tract infection-UTI)
- Nhiễm khuẩn đường tiết niệu bệnh viện chiếm tỷ lệ 2,4% tổng số người bệnh nằm viện và chủ yếu liên quan đến đặt thông tiểu.
- Yếu tố nguy cơ:
+ Đặt thông tiểu không đúng kỹ thuật.
+ Chăm sóc thông tiểu không tốt.
+ Thời gian đặt thông tiểu kéo dài làm tăng tỷ lệ nhiễm khuẩn tiết niệu sau 5-7 ngày đặt thông tiểu.
- Đặt thông tiểu sau mổ, tỷ lệ nhiễm khuẩn tiết niệu có thể lên đến 40%, chủ yếu do một số nguyên nhân:
+ Đặt thông tiểu không vô khuẩn.
+ Hệ thống dẫn lưu bị hở.
+ Chăm sóc ống thông không đúng.
+ Túi chứa nước tiểu bị ô nhiễm.
+ Không thực hiện đúng quy tắc kiểm soát nhiễm khuẩn.
b. Nhiễm khuẩn vết mổ (Surgical site infecton-SSI)
- Nhiễm khuẩn vết mổ (nhiễm khuẩn tại vị trí phẫu thuật) xảy ra ở 1,4% tổng số người bệnh nằm viện, 2-8% tổng số người bệnh phẫu thuật và chiếm 20-25% trong tổng số các trường hợp NKBV.
- Nhiễm khuẩn vết mổ thường xuất hiện sau 01 tuần.
- Phân loại phẫu thuật:
+ Phẫu thuật sạch: bao gồm các phẫu thuật vùng da còn nguyên vẹn, không có viêm, không sang chấn, không liên quan đến miệng, hầu, họng, ống tiêu hóa, hệ thống hô hấp, hệ thống tiết niệu sinh dục, không có lỗi về vô khuẩn, khâu vết mổ ngay và không dẫn lưu.
+ Phẫu thuật sạch-nhiễm: bao gồm các phẫu thuật da còn nguyên vẹn, có mở vào niêm mạc hoặc có liên quan đến ống tiêu hóa, hệ hô hấp, hệ hô hấp nhưng chưa có nhiễm khuẩn.
+ Phẫu thuật nhiễm: bao gồm vết thương mới do chấn thương không nhiễm bẩn; phẫu thuật liên quan đến tiết niệu, đường mật, tiêu hóa có nhiễm khuẩn.
+ Phẫu thuật bẩn: bao gồm các vết thương do chấn thương trên 4 giờ, thủng tạng rỗng, vết thương có dị vật, mô hoại tử.
- Phân loại dẫn lưu: Chủ yếu là các dẫn lưu ngoài, chủ yếu 2 loại:
+ Dẫn lưu kín, hút-kín: là dẫn lưu 1 chiều, dịch từ trong người bệnh sẽ theo ống dẫn lưu chảy ra túi hoặc ống nối với máy hút áp lực âm (VAC).
+ Dẫn lưu hở: là dẫn lưu không kín, thường thông với bên ngoài và không để quá 48 giờ. Loại dẫn lưu này dễ gây nhiễm khuẩn ngược dòng.
- Vùng phẫu thuật có liên quan mật thiết đến tỷ lệ nhiễm khuẩn:
+ Phẫu thuật ở vùng sạch: tỷ lệ nhiễm khuẩn là 1,6%.
+ Phẫu thuật sạch-lây nhiễm (đường tiết niệu, đường mật): 7,7%.
+ Phẫu thuật lây nhiễm (phẫu thuật ổ nhiễm khuẩn như viêm ruột thừa, áp xe gan): 15,3%.
+ Phẫu thuật bẩn: 39,8%.
- Thời gian phẫu thuật: thời gian kéo dài, nhiều tổ chức hoại tử, dị vật, máu tụ, thời gian đặt dẫn lưu càng dài thì tỷ lệ nhiễm khuẩn càng cao.
- Điều kiện phẫu thuật: vô khuẩn không tốt (phòng mổ, thay băng, dụng cụ phẫu thuật) làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn.
- Khả năng chống đỡ của người bệnh: các yếu tố như tuổi cao, suy dinh dưỡng, dùng thuốc ức chế miễn dịch…làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ.
- Điều kiện khác: vô khuẩn dụng cụ, đồ vải, xử lý chất thải, tắm cho người bệnh trước mổ, kỹ thuật mổ ít xâm lấn mô lành, chảy máu làm giảm yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn.
c. Nhiễm khuẩn đường hô hấp (Ventilation associate pneumonia infection-VAPI)
- Nhiễm khuẩn đường hô hấp chiếm khoảng 1% trong số người bệnh nằm viện, 18% trong nhiễm khuẩn bệnh viện chủ yếu là viêm phổi bệnh viện liên quan đến thở máy do quy trình chăm sóc không đảm bảo kỹ thuật vô khuẩn.
- Bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp thường gặp: viêm phổi…do người bệnh hít phải chất dịch ở đường mũi-họng, người bệnh có rối loạn về nuốt, ho; sau đặt nội khí quản, mở khí quản, soi phế quản.
d. Nhiễm khuẩn huyết (Blood system infection-BSI)
- Nhiễm khuẩn huyết tuy ít gặp nhưng là một biến chứng nặng của NKBV, tỷ lệ tử vong cao.
- Du khuẩn huyết (bacteremia) là sư hiện diện của các vi khuẩn sống trong máu. Có 3 dạng du khuẩn huyết:
+ Du khuẩn huyết tạm thời: do vi khuẩn thường trú vào máu (đánh răng, đi đại tiện).
+ Du khuẩn huyết cách hồi: do vi khuẩn từ một vị trí nhiễm được phóng thích cách hồi vào máu (áp-xe, viêm phúc mạc, viêm mô tế bào)
+ Du khuẩn huyết liên tục: vi khuẩn tấn công trực tiếp vào máu (viêm nội tâm mạc bán cấp, đặt catheter động mạch)
- Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (Systemic Inflammatory Reponse Syndrome-SIRS): là một đáp ứng viêm toàn thể đối với nhiều kích tác lâm sàng nặng nề khác nhau được đặc trưng bởi sự hiện diện của ít nhất 2 trong các tiêu chuẩn sau:
+ Nhiệt độ cơ thể > 38°C hoặc < 36°C;
+ Tần số tim > 90 lần/phút;
+ Tần số thở > 20 lần/phút hoặc PaCO2 < 32 mmHg;
+ Số lượng bạch cầu máu ngoại biên > 12 000 BC/mm3 hoặc < 4000 BC/mm3 hoặc bạch cầu non dạng band chiếm > 10%.
- Nhiễm khuẩn huyết: hội chứng đáp ứng viêm hệ thống do nhiễm trùng.
.jpg)
Nguyên nhân nhiễm khuẩn huyết
- Tỷ lệ nhễm khuẩn huyết tùy theo các nhóm bệnh tại các bệnh viện thay đổi từ 5-25%, nguồn gốc nhiễm khuẩn huyết có thể theo nhiều con đường khác nhau:
+ Do đường vào bị ô nhiễm: Đặt catheter tĩnh mạch (nhiễm khuẩn trong khi đặt catheter hoặc trong quá trình chăm sóc); quá trình chăm sóc làm ô nhiễm đuồng vào mạch máu; tiêm, truyền dịch bị ô nhiễm; đặt ống thông mạch máu, dẫ lưu để chẩn đoán hoặc sau phẫu thuật.
+ Do có ổ nhiễm khuẩn: Nhiễm khuẩn vết thương, vết bỏng, ổ bụng; bội nhiễm hii hấp (viêm phổi); viêm màng trong tim,viêm xương-tủy xương; nhiễm khuẩn trên một dị vật; phẫu thuật vào ổ nhiễm khuẩn.
- Các yếu tố nguy cơ:
+ Người già, trẻ sơ sinh/đẻ non.
+ Người sử dụng thuốc ức chế miễn dịch, như sử dụng corticoid kéo dài, các thuốc chống thải ghép, hoặc đang điều trị hóa chất và tia xạ.
+ Người bệnh có bệnh lý mạn tính, như tiểu đường, HIV/AIDS, xơ gan, bệnh van tim và tim bẩm sinh, bệnh phổi mạn tính, suy thận mạn.
+ Người bệnh cắt lách, nghiện rượu, có bệnh máu ác tính, giảm bạch cầu hạt.
+ Người bệnh có đặt các thiết bị hoặc dụng cụ xâm nhập như đinh nội tủy, catheter, đặt ống nội khí quản…
- Các tác nhân gây nhiễm khuẩn huyết thường gặp:
+ Vi khuẩn Gram âm: họ Enterobacteriacae bao gồm Salmonella, Escherichia coli, Klebsiella, Serratia, và các vi khuẩn Enterobacter, Pseudomonas aeruginosa, Burkholderia pseudomallei
+ Vi khuẩn Gram dương: Streptococcus pneumoniae, Staphylococcus aureus, Streptococcus suis…
+ Nấm : Candida, Trichosporon asahii
+ Các vi khuẩn kị khí thường gặp: Clostridium perfringens và Bacteroides fragilis.
8. Phân loại nhiễm trùng bệnh viện theo mầm bệnh
Những năm gần đây, tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện rất đa dạng nhưng chủ yếu vẫn là các vi khuẩn Gram âm.
- Vi khuẩn Gram âm: Echerichia coli, Proteus, Klebsiella, Citrobacter, Enterrobacter và Serratia species; các vi khuẩn Gram âm khác như P. aeruginosa, Acinetobacter đều là các vi khuẩn đề kháng đa kháng sinh.
- Vi khuẩn Gram dương: gia tăng các chủng S. aureus kháng methicillin và S. aureus không có enzym coagulase (coagulase negative Stahylococcus – CNS). Ngoài ra có thể gặp Enterococcus, Bacillus, C. perfringens, C. tetani, Listeria monocytogenes.
- Virus: gồm các virus có sức lấy truyền cao như HBV, HCV, Cúm A, Herpes virus, SARS-CoV-2 (Covid 19)…
a. Vi khuẩn
a.1. Vi khuẩn Gram dương:
Các vi khuẩn Gram (+) chiếm khoảng 20% trong các nhiễm khuẩn bệnh viện.
* Tụ cầu (Staphylococcus): cầu khuẩn Gram (+) không sinh nha bào, phát triển được trong môi trường ưa khí và kị khí. Tồn tại trong không khí, nước, có thể tồn tại cả ở trong môi trường khô.
- Trong các chủng tụ cầu gây bệnh thì tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) có khả năng gây nhiều loại bệnh khác nhau như nhiễm khuẩn ngoài da, nhiễm khuẩn huyết, viêm phổi, viêm cơ, viêm màng tim, viêm xương, viêm khớp, nhiễm độc thức ăn, viêm ruột cấp…Nhiều chủng S. aureus kháng lại nhiều loại kháng sinh mới như: methicelin, vancomycin, imipenem và một số kháng sinh khác là cho nhiễm khuẩn thường nặng, tỷ lệ tử vong cao.
+ Lây truyền trực tiếp qua đường mũi họng, gián tiếp qua bàn tay, dụng cụ, nước, không khí, thực phẩm.
+ Biểu hiện lâm sàng: viêm da, niêm mạc, mụn nhọt, chốc lở, nhiễm khuẩn huyết, nhiễm khuẩn tiết niệu, sinh dục, hô hấp, tiêu hóa, dễ hình thành các ổ áp xe ở cơ, ở não, phổi; điều trị khó khăn, tỷ lệ tử vong cao.
+ Tụ cầu là tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện nhiều nhất ở các khoa nhi và khoa ngoại.
+ Bệnh phẩm: tùy trường hợp bệnh lý có thể lấy bệnh phẩm mủ, máu, đờm, dịch não tủy…
- Coagulase negative Staphylococcus (CNS):
+ Trước đây nhóm vi khuẩn này được coi là vi khuẩn tạp nhiễm vào bệnh phẩm, không phải là vi khuẩn gây bệnh.
+ Ngày nay, có nhiều nghiên cứu cho thấy Staphylococcus này cũng có thể có vai trò gây bệnh giống như S. aureus.
+ Các nhiểm khuẩn có thể gặp:
* Liên cầu (Streptococcus):
- Liên cầu nhóm A: gây nhiễm khuẩn sản khoa, gây thấp khớp chiếm tỉ lệ cao trong nhiễm khuẩn bệnh viện.
- Liên cầu nhóm B: gây bệnh ở trẻ sơ sinh, gây viêm màng não; thường vào tuần thứ 3 sau khi nhiễm mầm bệnh.
- Liên cầu nhóm D: thường gây nhiễm khuẩn đường ruột, gây bội nhiễm các tổn thương đường tiết niệu.
- Enterococcus:
+ Thường cư trú ở đường tiêu hóa, đường tiết niệu sinh dục của người.
+ Đứng hàng thứ 3 trong số các tác nhân gây NKBV, đây là vi khuẩn gây bệnh cơ hội và có tỷ lệ gây bệnh cao.
+ Đề kháng tự nhiên với nhiều loại kháng sinh như các kháng sính thuộc phân nhóm cephalosporin, các kháng sinh nhóm aminoglycosid; nhạy cảm vừa với quynolone và chưa có đề kháng với vancomycin.
- Trực khuẩn uốn ván (Clotridium tetani):
+ Là trực khuẩn kị khí, Gram (+), sinh nha bào, nha bào gặp nhiều ở trong đất, phân của người và súc vật. Nha bào uốn ván có sức đề kháng mạnh với nhiệt và các thuốc sát trùng.
+ Nguồn bệnh: chủ yếu là đất, phân người và súc vật có chứa nha bào uốn ván; vết thương của các bệnh nhân bị uốn ván.
+ Đường lây: qua vết thương của da và niêm mạc bị nhiễm nha bào uốn ván. Những vết thương có thể nhỏ và kín đáo như vết kim tiêm, xỉa răng đến các vết thương to như sau phẫu thuật, nạo thai, cắt rốn…do những vết thương có tình trạng thiếu oxy do miệng vết thương bị bịt kín, tổ chức hoại tử có dị vật, có vi khuẩn gây mủ khác.
+ Biểu hiện lâm sàng: những cơn co giật, giật cứng, cứng hàm, tăng trương lực cơ, rối loạn thần kinh thực vật; tỷ lệ tử vong cao.
a.2. Vi khuẩn Gram âm:
- Vi khuẩn đường ruột (Salmonella): thường gây thành dịch bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm độc thức ăn, bệnh thương hàn...
- Escherichia Coli: gây bội nhiễm đường tiết niệu và các vết mổ.
- Trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa): có đặc tính kháng các thuốc sát khuẩn và kháng sinh; thường gây bệnh ở bệnh nhân có sức đề kháng suy giảm, mắc các bệnh ác tính, dùng corticoid lâu dài…
- Klebshiella: là trực khuẩn Gram âm, ưa khí và kị khí, không tạo nha bào; tồn tại trong nước, đất, rau...có thể tồn tại trong các dung dịch khử khuẩn bảo quản không tốt như các loại mỡ bôi, xà phòng, bình làm ẩm oxy.
+ Lây trực tiếp qua dịch tiết mũi họng.
+ Lây gián tiếp qua bàn tay, dụng cụ và các dung dịch nhiễm mầm bệnh.
E.coli và Klebshiella sản sinh các men đề kháng β-lactamase sẽ đề kháng toàn bộ cephalosporin (kể cả thế hệ 3, 4) và aztreonam, carbapenem.
- Trực khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis): vi khuẩn không có vỏ, không tạo nha bào, khó nuôi cấy và phần lập.
+ Nguồn lây nhiễm là không khí, bụi, dụng cụ khử khuẩn không đúng quy trình. Người mắc bệnh lao là nguồn lây bệnh quan trọng.
+ Lây truyền qua đường hô hấp, trực tiếp qua các hạt nước bọt, dịch mũi họng khi tiếp xúc với bệnh nhân nói, ho, khạc đờm, hắt hơi. Những hạt bụi nhỏ chứa vi khuẩn lao trong không khí có thể xâm nhập vào đường hô hấp rồi gây bệnh. Trường hợp đặc biệt có thể nhiễm bệnh lao qua đường tiêu hóa.
+ Là tác nhân gây bệnh lao phổi, gây nhiễm khuẩn cơ hội, đặc biệt ở người bệnh AIDS.
- Acinetobacter baumannii:
+ Là vi khuẩn Gramm (-) có thể gây bùng phát thành dịch NKBV.
+ Vi khuẩn này thường được phân lập được ở bệnh phẩm đờm tại khoa Hồi sức tích cực ở những người có sử dụng máy thở.
+ Ngoài ra còn gây các nhiễm khuẩn khác: Viêm phổi, viêm nội tâm mạc, nhiễm khuẩn da và vết thương, nhiễm khuẩn tiết niệu….
+ Đề kháng với hầu hết kháng sinh thông thường.
a.3. Vi khuẩn kỵ khí:
- Các trực khuẩn Gram (+) kỵ khí thuộc giống Clostridium thường gây các bệnh nặng hoại thư sinh hơi, tỷ lệ bệnh này thay đổi tùy theo từng bệnh viện.
- Chúng tồn tại trong đất và bùn thải của hệ thống cống rãnh trong bệnh viện.
b. Virus
- Lây truyền qua đường máu: Là đường lây truyền chủ yếu nhất của một số virus như: Virus viêm gan B, C, HIV…Chúng có thể lây nhiễm qua đường tiêm truyền, nha khoa, phẫu thuật, cấy ghép tạng hoặc cũng có thể qua đường nội soi do xước niêm mạc.
- Lây truyền qua đường tiêu hóa: Rotavirus, virus đường ruột (Enterovirus), viêm gan A lây truyền qua đường phân-miệng do tay bẩn hoặc do nhiễm từ nguồn nước, thực phẩm.
- Lây truyền qua đường hô hấp: Các virus như virus cúm A, Herpes, SARS, Covid 19…Đây là những virus gây bệnh nặng và rất khó phòng, chống lây lan trong bệnh viện nên cần có sự tuân thủ phòng ngừa chuẩn, phòng ngừa cách ly của mọi người trong bệnh viện khi có dịch xảy ra.
c. Ký sinh trùng và nấm gây bệnh
c.1. Nấm:
- Một số loài nấm như Candida albicans, Aspergillus, Cryptococcus neoforman là những căn nguyên nhiễm khuẩn cơ hội ở những người điều trị kháng sinh dài ngày hoặc bị suy giảm hệ thống miễn dịch. Aspergillus có trong bụi.
- Candida albicans là tác nhân gây nhiễm khuẩn và được phân lập từ đờm, dịch phế quản, tiết niệu-sinh dục, máu…và thường gặp ở âm đạo.
- Cryptococcus neoformans là tác nhân gây viêm màng não mủ và các nhiễm khuẩn có liên quan đến AIDS.
c.2. Ký sinh trùng:
- Giardia lambia gây tiêu chảy được truyền dễ dàng từ người sang người, kể cả người lớn và trẻ em.
- Crytosporidium có thể là căn nguyên nhiễm khuẩn cơ hội ở những người dùng kháng sinh dài ngày hoặc suy giảm hệ thống miễn dịch.
9. Phân loại các thể bệnh nhiễm trùng
Nhiễm trùng đơn độc: nhiễm trùng do 1 loại mầm bệnh gây nên.
Nhiễm trùng phối hợp: nhiễm trùng do hai hoặc nhiều loại mầm bệnh gây nên.
Nhiễm trùng thứ phát: nhiễm trùng trên cơ thể bị suy yếu do một nhiễm trùng khác (nhiễm nấm Candida thứ phát trên bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS...).
Nhiễm trùng cục bộ: nhiễm trùng tập trung tại một vị trí nhất định.
Nhiễm trùng toàn thân.
Nhiễm trùng cấp tính (cấp diễn): cúm, lỵ...
Nhiễm trùng mạn tính (trường diễn).
Các thể nhiễm trùng khác như: nhiễm trùng tái nhiễm, nhiễm trùng phôi thai (bệnh giang mai bẩm sinh), nhiễm trùng điển hình và không điển hình, nhiễm trùng chậm (nhiễm virus HIV), nhiễm trùng phân tử (do các acid nucleic. của virus xâm nhập vào cơ thể có thể gây bệnh).
10. Thực trạng nhiễm khuẩn bệnh viện
- Tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện ở các nước phát triển khác nhau dao động trong khoảng 3,5% - 12%. Hiện tỷ lệ hiện nhiễm ở các nước châu Âu trung bình là 7,1%.
- Theo thống kê năm 2018 của Cục Quản lý khám, chữa bệnh Bộ Y tế:
+ Tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện chung là 3,6% (cao nhất tuyến tỉnh với 5,06%, tuyến trung ương 2,79%, tuyến huyện 2,11% và bệnh viện tư nhân 1,45%). Giám sát vi sinh và vi khuẩn kháng thuốc dù tăng so với năm 2015 (8,1%), ở mức 13,45%, nhưng vẫn ở mức thấp. 40,97% bệnh viện thực hiện giám sát vi sinh trong môi trường tại những khu vực có nhiều nguy cơ lây nhiễm.
+ Theo nghiên cứu của Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương khảo sát trên khoảng gần 4.000 bệnh nhân của 15 khoa Hồi sức tích cực tại 15 bệnh viện trên cả nước cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện là 27,3%. Các bệnh viện tuyến Trung ương có tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện cao hơn bệnh viện tuyến cơ sở. Nguy hiểm hiện nay là các vi khuẩn kháng nhiều loại kháng sinh đặc trị dao động trong khoảng 50% đến 75%.
11. Phương pháp điều trị bệnh nhiễm trùng nói chung
Điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn:
Các bác sĩ thường điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn bằng kháng sinh. Kháng sinh có thể diệt vi khuẩn hoặc ngăn chặn chúng nhân lên. Tuy nhiên, kể từ khi vi khuẩn kháng kháng sinh ngày càng tăng, các thuốc kháng sinh thế hệ mới nhất được chỉ định dùng cho các bệnh nhiễm khuẩn nghiêm trọng.
Điều trị nhiễm trùng do virus:
Kiểm soát các triệu chứng bằng các loại thuốc khác nhau. Ví dụ: dùng paracetamol để giảm sốt. Sử dụng thuốc kháng virus để ngăn chặn sự nhân lên của virus, Ví dụ: dùng thuốc chữa HIV/AIDS. Thuốc kháng sinh sẽ không hiệu quả để điều trị nhiễm virus.
12. Biện pháp phòng tránh nhiễm trùng bệnh viện
Để dự phòng và kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện cần có những hiểu biết kỹ lưỡng về nguồn lây truyền các vi sinh vật gây bệnh và các đường lây truyền của những tác nhân này.
a. Biện pháp dự phòng
a.1. Rửa tay
Rửa tay là biện pháp quan trọng nhất, ngăn ngừa lây lan vi sinh vật từ bệnh nhân này sang bệnh nhân khác qua tay các bác sĩ, điều dưỡng. Vấn đề này dễ bị xem thường và không tuân thủ đúng quy định.
a.2. Dùng dụng cụ vô khuẩn
Thực hiện nghiêm ngặt quy trình vô khuẩn: cọ rửa dụng cụ, khử khuẩn và tiệt khuẩn dụng cụ đúng quy trình.
a.3. Cách ly bệnh nhân
Bệnh nhân mắc bệnh truyền nhiễm hoặc nghi ngờ có nguy cơ lây truyền bệnh đều được nằm ở phòng cách ly.
a.4. Bệnh nhân sử dụng dụng cụ riêng
Bơm, kim tiêm, các loại ống thông, ống hút, đồ dùng cá nhân... dùng riêng cho từng bệnh nhân.
a.5. Quản lý chất thải trong khoa phòng và bệnh viện
- Thùng đựng chất thải, rác có nắp đậy kín, để đúng nơi quy định; khi chuyên chở phải đảm bảo vệ sinh.
- Chất thải được xử lý trước khi đưa ra ngoài bệnh viện.
b. Những nội dung và biện pháp phòng ngừa chuẩn
Căn cứ Quyết định số 3671/QĐ-BYT ngày 27/9/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn phòng ngừa chuẩn trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
- Vệ sinh tay.
- Sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân.
- Vệ sinh hô hấp và vệ sinh khi ho.
- Sắp xếp người bệnh.
- Tiêm an toàn và phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn.
- Vệ sinh môi trường.
- Xử lý dụng cụ.
- Xử lý đồ vải.
- Xử lý chất thải.